Nuôi heo bằng “protein xanh”

03/01/2018 | 04:45

Ấn phẩm đã xuất bản

(Người Chăn Nuôi) - Tận dụng vẹm đen, sao biển và tảo làm protein nuôi heo theo nghiên cứu của giáo sư Jan V. Nørgaard, Đại học Aarhus, Đan Mạch được nhiều chuyên gia tại Victam 2017 hoan nghênh. Đây được gọi nguồn “protein xanh” thay thế đầy tiềm năng trong tương lai.

Tại Victam 2017 - triển lãm và hội nghị quốc tế lớn nhất thế giới về dinh dưỡng và thức ăn chăn nuôi tại Cologne, Đức vừa qua, giáo sư Jan V. Norgaard khẳng định, một trong những vướng mắc lớn của ngành chăn nuôi heo hiện nay là thiếu hụt nguồn cung protein để bổ sung vào TĂCN. Trong khi đó, tại châu Âu, đất nông nghiệp nhờ khai hoang rừng nhiệt đới ở Nam Mỹ lại không được sử dụng để sản xuất protein đậu nành phục vụ ngành chế biến TĂCN.

Nhiều chuyên gia dự đoán, bắt đầu từ 2018, các hãng chăn nuôi heo và gia cầm hữu cơ sẽ phải đối mặt thách thức thiếu hụt nguồn protein hữu cơ. Trước thực trạng này, những nguồn “protein xanh” như vẹm đen, sao biển và tảo biển trở thành nguồn protein thay thế rất lý tưởng vì chúng có thể giải quyết những thách thức quan trọng cho ngành chăn nuôi và toàn xã hội.

Sao biển có giá trị dinh dưỡng trong nuôi heo	 Ảnh: Modern Farmer
Sao biển có giá trị dinh dưỡng trong nuôi heo     Ảnh: Modern Farmer

 

Vẹm đen

Sản lượng bột vẹm đen tại vịnh Đan Mạch đạt 15.000 tấn/năm. Bình quân, một trại nuôi vẹm đen tại vịnh Đan Mạch với quy mô 18 ha có thể cho năng suất 61 tấn vẹm tươi/ha.

Bột vẹm đen có giá trị dinh dưỡng cao. Dạng vật chất khô chứa 58 - 66% protein thô, khoáng thấp, và với heo, gia cầm thì chúng có tác dụng cân bằng axit amin. Hàm lượng béo thô 12 - 16% vật chất khô gồm một lượng lớn các axit béo bão hòa đa; đặc biệt là axit béo Omega-3 chứa EPA và DHA. Ngoài ra, vẹm đen còn chứa carotenoid như â-caroten, lutein A, zeaxanthin và xanthofyls như astaxanthin. Độ tiêu hóa lý tưởng của protein thô ở heo là 0,83.

 

Sao biển

Sao biển không phải là nguyên liệu TĂCN mới. Trước và sau Thế chiến thứ II, sao biển đã được sử dụng làm thức ăn cho gia súc gia cầm do nguồn TĂCN bị thiếu hụt nghiêm trọng. Tại vịnh Đan Mạch, sao biển được khai thác để làm TĂCN từ giữa những năm 1980. Cho tới khi xuất hiện bệnh bò điên (TSE), chính phủ cũng hạn chế sử dụng sao biển làm thức ăn cho các động vật nhai lại; từ đó cấm mọi hoạt động khai thác sao biển.

Tới năm 2013, Đan Mạch cho phép khai thác sao biển ở một số khu vực  nhất định. Tới nay, bột sao biển khô tại Đan Mạch đạt 3.000 tấn/năm và được phép sử dụng làm thức ăn thủy sản. Từ tháng 7/2017, sao biển được châu Âu chấp thuận làm nguyên liệu thức ăn nuôi heo và gia cầm. Tuy nhiên, do những hạn chế trong quy định về nguồn thức ăn liên quan tới bệnh bò điên TSE; đến nay, sao biển bị xếp vào nhóm cá và chưa được sử dụng rộng rãi trong lĩnh vực chăn nuôi, đặc biệt là chăn nuôi gia súc (trâu bò…) mặc dù sao biển là loài không xương sống và rất an toàn khi dùng làm nguyên liệu TĂCN gia súc, gia cầm hay thủy sản.

Sao biển dạng vật chất khô chứa 38 - 70% protein thô, 9 - 11% chất béo, 20 - 42% tro tùy mùa khai thác. Lượng protein cao nhất và tro thấp nhất được tìm thấy ở sao biển khai thác vào tháng 2. Độ tiêu hóa chẩn của protein trong bột sao biển là 0,8. 

 

Tảo biển

Sản lượng tảo biển tươi toàn thế giới đạt 25 triệu tấn/năm, trong đó châu Á chiếm 99%. Pháp và Na Uy là hai quốc gia sản xuất tảo biển lớn nhất châu Âu. Tảo biển châu Âu thường được thu hoạch trong tự nhiên theo phương pháp thủ công, nhưng cũng có một số nơi trồng tảo biển tại trang trại bằng hệ thống dây thừng.

Tảo biển chủ yếu được sử dụng làm thực phẩm. Chất lượng tảo biển phụ thuộc rất lớn vào chất lượng nước biển như nồng độ muối cao, nhiệt độ thấp. Những điều kiện môi trường như trên quyết định sản lượng tảo biển hàng năm 3 - 30 tấn/ha trồng tảo. Ngoài ra, mỗi loài tảo biển sẽ có giá trị dinh dưỡng khác nhau. Tại Đan Mạch, tảo bẹ (sugar kelp) và rau diếp biển (sea lettuce) có giá trị dinh dưỡng cao nhất. Tảo bẹ (sugar kelp) dạng vật chất khô sẽ có màu nâu, chứa 14 - 38% tro và 7 - 13% protein thô cùng hàm lượng cao các chất natri, kali và i-ốt. Rau diếp biển chứa 15% protein thô và thành phần axit amin tương tự khô dầu đậu tương. Ngoài ra, rau diếp có hàm lượng cao các chất canxi, lưu huỳnh, ma-giê, natri và clorua.

 

Chế biến

Vẹm đen, sao biển và tảo biển cần phải được chế biến để bảo quản được lâu. Sản xuất thành bột khô là phương pháp phổ biến nhất; ngoài ra ủ chua cũng giúp bảo quản được sản phẩm rất lâu.

Với công nghệ hiện nay, sấy khô sao biển và tảo biển tương đối đơn giản. Sấy khô rồi nghiền sao biển thành bột tại nhà máy là quy trình chế biến phổ biến và đơn giản nhất hiện nay. Chế biến vẹm đen khó hơn vì chúng có vỏ. Khi được sử dụng làm thức ăn nuôi heo, phần thịt của vẹm phải được tách khỏi lớp vỏ. Tuy nhiên, nếu trong chế biến thức ăn cho gia cầm, vỏ vẹm vẫn được tận dụng.

Tách vỏ vẹm bằng phương pháp luộc là cách làm hiệu quả nhưng chỉ thực hiện trong ngành chế biến thực phẩm cho con người. Trong sản xuất TĂCN, luộc vẹm sẽ làm mất protein và chất béo cần thiết. Do đó, nhà sản xuất cần phải tìm ra phương pháp mới để loại bỏ vỏ vẹm bằng các tác động vật lý. Tại Thụy Điển, các hãng sản xuất tách vỏ vẹm bằng các phản ứng nhiệt học để không làm mất chất dinh dưỡng của sản phẩm.

Vẹm đen, tảo biển va sao biển đều là các nguồn protein thay thế rất tiềm năng trong ngành thức ăn chăn nuôi. Tuy nhiên, để các sản phẩm hoàn chỉnh tới tay người chăn nuôi, vẫn còn cả một chặng đường dài với nhiều thách thức phía trước, mà chủ yếu là khâu chế biến vì đòi hỏi công nghệ và kỹ thuật cao.

 

 

 

Mi Lan

(Tổng hợp)

loading...
Gửi bình luận

Gửi Làm lại

loading...
ANOVA PHARMA article